OAI HÙNG Y – VÕ VIỆT VANG DANH DÒNG MÁU LẠC HỒNG

Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước đã sản sinh ra một văn hóa Võ Thuật và Y Học Cổ Truyền của người Việt Nam. Rồi đến lượt chính văn hóa cổ truyền ấy, góp phần quyết định cho lịch sử dựng nước và giữ nước vẫn là dòng chảy liên tục từ quá khứ tới hiện tại và tương lai, giữ cho dân tộc Việt Nam mãi trường tồn.

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có bản sắc riêng, và trong những thời điểm khó khăn nhất, họ đã phát triển những phương pháp bảo vệ bản thân và quê hương. Với đất nước Việt Nam, sức mạnh của dân tộc nằm ẩn trong tinh thần dũng mãnh, sự tự chủ và ý chí bất khuất. Dưới áp lực của quân xâm lược, dân tộc đã không ngừng chiến đấu, không ngừng tìm kiếm những cách đối phó mới mẻ, phù hợp với đặc điểm của mình.

Có thể kể đến như cuộc đấu tranh không mệt mỏi với quân Mông Cổ, một đế quốc khổng lồ từ phương Bắc, đã tới và định hình lại bản đồ châu Á từ biển Hắc Hải đến Thái Bình Dương. Nhưng cuối cùng, họ cũng phải khuất phục trước tinh thần và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Đó không chỉ là một câu chuyện huyền thoại, mà là sự thật mà hào hùng của dân tộc.

Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ) với trận đại thắng trước 5 vạn quân Thanh, hay những cuộc kháng chiến chống lại thế lực Pháp, Mỹ, đều là những bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Dân tộc Việt Nam yêu chuộng hòa bình nhưng cũng không ngần ngại hy sinh, chiến đấu để bảo vệ quê hương, và từ những cuộc chiến tranh đó, các bậc tiền nhân đã rút ra những bài học quý giá, cũng như phát triển một nền y – võ học cổ truyền phong phú và đa dạng được truyền thừa cho đến ngày hôm nay.

Qua ngàn năm lịch sử từ thời Văn Lang, Âu Lạc, Bắc thuộc, cho đến hôm nay, dân tộc Việt Nam đã không ngừng khẳng định bản thân qua những chiến công vĩ đại và những phát minh, sáng tạo trong y – võ học. Tinh thần kiên cường, ý chí bất khuất và sự bao dung không chỉ là tài sản của quá khứ, mà còn là nguồn động viên mạnh mẽ cho tương lai của dân tộc.

Võ thuật cổ truyền Việt Nam qua các thời kỳ

            1. Thời kỳ Văn Lang (696 TCN – 208 TCN):

– Trong giai đoạn này, võ thuật sơ khai đã được phát triển để đối phó với các thách thức từ môi trường tự nhiên và các mối đe dọa từ thú dữ.

-Dưới sự lãnh đạo của các vua Hùng, một hệ thống quân chủ bắt đầu hình thành, với các Lạc hầu và Lạc tướng giúp việc truyền bá các phương pháp tự vệ lan rộng đến toàn dân

            2. Thời kỳ Âu Lạc (208 TCN – 179 TCN) và Bắc thuộc (179 TCN – 939 SCN):

– Võ thuật đã được sử dụng trong các cuộc chiến chống lại quân đội xâm lược, đặc biệt là quân Triệu Đà.

– Dân tộc Việt Nam đã phải đối mặt với sự xâm lược và áp bức từ các triều đại ngoại bang, nhưng không từ bỏ tinh thần tự chủ và sự kiêu hùng của mình.

– Võ thuật đã tiếp nhận và hấp thụ kiến thức từ các quốc gia khác, tạo nên sự đa dạng và phong phú trong các kỹ thuật chiến đấu.

  3. Thời kỳ Tự Chủ (939 SCN – 1407):

– Trong giai đoạn này, các vương triều Việt Nam đã phải đối mặt với những cuộc xâm lược từ phía các quốc gia lân cận như Trung Quốc và Mông Cổ.

– Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của các nhà vua và các tướng lĩnh tài ba như Lý Thường Kiệt và Trần Hưng Đạo, dân tộc Việt Nam đã chống lại sự xâm lược mạnh mẽ từ bên ngoài và bảo vệ đất nước.

         

Vua Quang Trung đại phá Quân Thanh

– Trong thời kỳ này, võ thuật đã đóng vai trò quan trọng trong các cuộc chiến đấu chống lại sự xâm lược của ngoại bang

– Vua Quang Trung đã tổ chức và huấn luyện nghĩa quân bằng các kỹ thuật võ thuật, giúp chiến thắng năm vạn quân Thanh và lấy lại độc lập cho đất nước.

5. Thời cận đại chống ngoại xâm (1802 – 1945):

– Võ thuật đã tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong các cuộc kháng chiến chống lại sự xâm lược từ phía các thực thể thực dân như Pháp và Nhật.

– Những anh hùng dân tộc như Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu đã sử dụng võ thuật để tổ chức và lãnh đạo các cuộc kháng chiến.

– Thông qua những giai đoạn lịch sử đầy biến động này, võ thuật cổ truyền Việt Nam không chỉ là một phần không thể thiếu của văn hóa dân tộc mà còn là biểu tượng của sức mạnh và ý chí kiên cường của dân tộc.

  6. Giai đoạn thành lập Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam

– 19/8/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký quyết định số 252/CT cho phép thành lập Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam.

– Ngày 17/2/1992, Bộ trưởng – Trưởng ban – Ban tổ chức cán bộ của Chính phủ ký quyết định số 79/TCCP công nhận bản Điều lệ của LĐVTCTVN.

– Ngày 27/3/2007 Bộ trưởng Bộ Nội vụ ký Quyết định số 259/QĐ-BNV phê duyệt bản Điều lệ (sửa đổi) của Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam.

– Các kỳ Hội nghị chuyên môn Võ thuật cổ truyền toàn quốc mục đích khôi phục, thống nhát một số bài bản Võ thuật cổ truyền trong các môn phái cả nước làm tâm điểm chung cho hoạt động phát triển phong trào giai đoạn mới.

Trong dòng chảy lịch sử hùng vĩ của dân tộc Việt Nam, y học cổ truyền cũng đã trải qua những giai đoạn phồn thịnh và thăng trầm.

1. Thời kỳ Hồng Bàng và các vua Hùng (2879-257 TCN):

– Dưới triều đại Hồng Bàng, y học cổ truyền đã lập nên những phương pháp trị liệu độc đáo, từ việc sử dụng các loại thảo dược đến phương pháp nhuộm răng với trầu và cau, tạo nên một nền móng vững chắc cho sự phát triển sau này.

  2. Dưới các triều Ngô, Đinh, Lê, Lý (938-1224):

– Năm 938 nền độc lập của nhà nước phong kiến Việt Nam được thiết lập mở đầu là nhà Ngô, tiếp theo đó là nhà Đinh, Lê, Lý. Song dưới các triều đại này chưa từng thấy tài liệu ghi chép về tổ chức y tế.

– Đến nhà Lý nước ta có nhiều thầy thuốc chuyên nghiệp. Ở triều đình đã có Ty thái y. Trong đó có ngự y chuyên chăm sóc sức khỏe cho vua. Năm 938 vua Lý Thần Tông phát bệnh điên cuồng, mình mọc lông dài. Miệng gào thét đã được Minh Không thiền sư chữa khỏi bằng cách tắm nước bồ hòn.

3. Dưới triều nhà Trần (1225-1399):

– Triều đại này chứng kiến sự phát triển đáng kể của y học cổ truyền, với viện thái y học được thành lập và các thầy thuốc tiêu biểu như Phạm Công Bân và Tuệ Tĩnh đã có những đóng góp quan trọng cho nền y học.

4. Thời nhà Hồ và thời thuộc Minh (1400 – 1427):

– Trong thời kỳ này nền y học cổ truyền có một số đặc điểm sau: Có viện thái y học với chức năng chăm lo sức khỏe cho vua quan trong triều đình, đồng thời có nhiệm vụ quản lý y tế trong cả nước. Từ năm 1261 nhà Trần đã mở khóa thi để tuyển lương y vào làm việc ở viện Thái y. Viện Thái y đã chỉ đạo việc đào tạo thầy thuốc và có kế hoạch thu trữ cấp phát dược liệu, phục vụ chữa bệnh cho vua quan và quân đội.

– Năm 1362, vua Trần Dụ Tông đã cấp phát tiền gạo và thuốc viên Hồng ngọc sương hoàn để chống dịch cho dân ở hạt Tam Đới (Phú Thọ) và phủ Thiên Trường (Nam Định).

Dưới thời nhà Trần xuất hiện một số thầy thuốc tiêu biểu:

– Phạm Công Bân (Cẩm Bình – Hải Dương) giữ chức Thái y lệnh, từ 1278 – 1314 ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho dân, ông còn bỏ tiền riêng mua sắm thuốc men dựng nhà nuôi dưỡng bệnh nhân nghèo bị tàn tật, hoặc trẻ em mồ côi cơ nhỡ.

– Tuệ Tĩnh còn gọi là Nguyễn Bá Tĩnh một tiến sĩ hoàng giáp, một nhà sư và một lương y nổi tiếng đã đề xuất thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt ông đã biên soạn cuốn Nam dược thần hiệu với 499 vị thuốc và các phương thuốc nam chữa 184 loại bệnh. Quyển sách của ông đã được Hòa thượng bản lai biên tập, bổ sung và in khắc lại năm 1761. Quyển Nam dược chính bản (có tựa của chúa Trịnh 1717) gồm hai quyển Nam dược quốc ngữ phú gồm 590 vị thuốc, Trực giải chỉ nam dược tính phú gồm 220 vị. Sau này đổi tên là Hồng nghĩa giác tư y thư.

– Qua một số tác phẩm của Tuệ Tĩnh ta thấy nổi bật lên đạo đức và đường hướng y học của ông. Trong thời kỳ này nhiều vị thuốc được phát hiện như Hoàng nàn, Hoàng đằng, Hoàng lực, Độc lực, Tân lang, Lá đơn đỏ, Vỏ lựu… Đồng thời Tuệ Tĩnh đã bước đầu chia bệnh ra 10 khoa.

5. Dưới triều Lê (1428- 1788):

– Dưới triều Lê, Lê Nhân Tông chú trọng phát triển nền y học cổ truyền nước ta. Lúc này đã có quan hệ trao đổi sản vật để lấy thuốc Bắc của Trung Quốc. Nhà Lê quan tâm đến sức khỏe của nhân dân.

– Luật Hồng Đức đã đưa ra quy chế nghề y, trừng phạt những thuốc vụ lợi. Cố tình chữa bệnh dây dưa hoặc chữa khoán, có quy chế vệ sinh xã hội, nghiêm trị những người chế và bán thuốc độc. Cuốn “Bảo sinh diên thọ toàn yếu” hướng dẫn giữ vệ sinh, luyện tập vận động thân thể để tăng tuổi thọ.

Trong thời kỳ này có các lương y nổi tiếng như:

+ Nguyễn Trực chuyên chữa về bệnh trẻ em bằng xoa bóp, bấm huyệt, đốt bấc; có các phương pháp trị bệnh sỏi, đậu mùa.

+ Chu Doãn Văn (Thanh Trì) có các y án trị bệnh ngoại cảm và biên soạn 4 thiên lý luận cơ bản rất súc tích.

+ Hoàng Đôn Hòa (Thanh Oai – Hà Tây) đã thành công trong việc dùng thuốc hoàn chế sẵn và dược liệu trồng tại chỗ để chữa bệnh đặc biệt là bệnh sốt rét và thổ tả.

+ Hải Thượng Lãn Ông – Danh y nổi tiếng của y học cổ truyền Việt Nam. Ngoài ra còn hàng loạt các danh y khác như Nguyễn Đạo An, Lê Đức Vong, Đào Công Chính, Tạ Chất Phác, Trần Hải Yến… đã có nhiều công lao đóng góp cho nền y học cổ truyền. Đặc biệt trong thời kỳ này, nổi bật lên như một ngôi sao sáng trong nền y học cổ truyền Việt Nam đó là danh y Lê Hữu Trác (1720-1791) Hải Thượng Lãn Ông (Hưng Yên). Ông đã để lại một pho kinh nghiệm quý báu, đúc rút qua nhiều thế hệ của các nhà y học cổ truyền trong và ngoài nước (Trung Quốc) với bộ sách khổng lồ Lãn Ông tâm lĩnh sau đổi thành Hải thượng y tông tâm lĩnh 28 tập, 66 quyển để phổ cập đào tạo thầy thuốc, lưu truyền cho hậu thế. Để ghi nhớ công ơn ông, ngành Y tế Việt Nam đã lấy ngày mất của ông 15-1 (âm lịch) là ngày truyền thống của những người hoạt động trong lĩnh vực y học cổ truyền Việt Nam.

Hải Thượng Lãn Ông – Danh y nổi tiếng của y học cổ truyền Việt Nam

            6. Dưới triều Tây Sơn (1789- 1802):

– Kết quả của những cuộc chia cắt đất nước làm cho bệnh tật phát triển, nhưng cũng cơ hội cho việc nâng cao kinh nghiệm trong phòng chống dịch và phát triển y học cổ truyền.

7. Dưới triều Nguyễn (1802 – 1905):

– Nhà Nguyễn đã có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển y học cổ truyền, bằng việc lập các cơ sở y tế và đào tạo thầy thuốc.

8. Dưới thời Pháp thuộc:

– Mặc dù bị áp đặt văn minh tây y, nhưng y học cổ truyền vẫn tồn tại và được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là ở vùng nông thôn và miền núi.

Dù qua bao biến cố lịch sử, y học cổ truyền Việt Nam vẫn luôn tồn tại và phát triển, đóng vai trò không thể phủ nhận trong việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Các danh y tiêu biểu như Hải Thượng Lãn Ông đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử y học, với những đóng góp vô cùng quý báu cho nền y học cổ truyền Việt Nam.

  9. Y học cổ truyền từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay

– Sau khi giành được chính quyền, Bác Hồ và Đảng ta đã quan tâm đến nền y học cổ truyền. Trong thư gửi cán bộ y tế ngày 27/2/1955 Bác Hồ viết “Y học phải dựa trên nguyên tắc khoa học, dân tộc, đại chúng. Ông cha ta ngày trước có nhiều kinh nghiệm quý báu về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc Bắc. Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây”

– Những chỉ thị 101 TTg ngày 15/3/1961, 21CP ngày 19/2/1967 và 26CP ngày 19/10/1978 đã quy định “Trên cơ sở khoa học thừa kế và phát huy những kinh nghiệm tốt của đông y và kết hợp với tây y tăng cường khả năng phòng bệnh, chữa bệnh, và tiến tới xây dựng nền y học Việt Nam”

– Điều 49 chương III, hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam có ghi “Phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo vệ sức khỏe nhân dân trên cơ sở kết hợp y học, dược học hiện đại với y học cổ truyền”

– Ngày 4/11/1955 Bộ Y tế có công văn 9126 YD/PBCB hướng dẫn các địa phương khai thác và sử dụng thuốc nam.

– Ngày 12/4/1956 Bộ Y tế tổ chức Phòng đông y trong Vụ chữa bệnh chuyên trách nghiên cứu đông y.

– Theo nghị định số 339 NV/DC ngày 3/6/1957 của Bộ nội vụ, Hội Đông y Việt Nam, sau chuyển thành Hội Y học cổ truyền Việt Nam, nay là Hội Đông y Việt Nam được phép thành lập với mục đích đoàn kết các người làm nghề và nghiên cứu đông y, đông dược và phối hợp với Bộ y tế trong công tác lãnh đạo giới đông y về tư tưởng nghiệp vụ.

Y – Võ cổ truyền Việt Nam phát triển cho đến ngày nay, ngoài vai trò là di sản văn hóa phi vật thể đặc trưng, còn là tinh hoa hội tụ, khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tinh thần thượng võ và nhân văn của con người Việt Nam.

Y Dược Sư Nguyễn Viết xô , uỷ viên HĐVS, TV Ban Y Võ