Điều trị TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO của Y – Dược sư Nguyễn Viết Xô và các đồng nghiệp tại phòng khám Từ thiện Tuệ Tĩnh Đường chùa Kỳ Quang II Q.Gò Vấp Tp.HCM trong suốt 16 năm qua
Điều trị di chứng TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO của Y – Dược sư Nguyễn Viết Xô và các đồng nghiệp tại phòng khám Từ thiện Tuệ Tĩnh Đường chùa Kỳ Quang II Q.Gò Vấp Tp.HCM trong suốt 16 năm qua(2000 – 2016)
.
TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
(Accidents vasculaires cérébraux
Cerebral vascular accidents)
.
Theo quan niệm của Y học hiện đại, Tai biến mạch máu não là một chứng bệnh cấp tính thường xảy ra ở người trung niên & cao tuổi. Đặc điểm chủ yếu của bệnh là xuất hiện một cách đột ngột, gây hôn mê và làm “bán thân bất toại”.
Bệnh chia làm 2 loại:
– Xuất huyết não (Hémorragie cérébrale) là tình trạng chảy máu não, hoặc chảy máu dưới màng cứng…
– Nhũn não (ramollisement cérébral) là tình trạng hình thành loại huyết khối gây nên sự nghẽn tắc của mạch máu não.
Theo quan niệm của Y học Đông phương được định nghĩa chung một danh từ bệnh học là chứng “TRÚNG PHONG”
Cách đây hơn 20 thế kỷ trong cuốn kinh điển của Hoàng Đế Nội kinh Linh khu có mô tả những triệu chứng “TRÚNG PHONG” này như các chứng: Kích bộc, Thiên khô, Phong phì mà những triệu chứng điển hình là đột ngột hôn mê, liệt nửa người,… Vào đời Đông Hán, sách Kim quĩ yếu lược của đại Danh y Trương Trọng Cảnh có mô tả các triệu chứng của bệnh trúng phong như Bán thân bất toại, mồm méo, nói khó, nặng thì hôn mê bất tỉnh.
Trúng phong được Tiền nhân phân biệt thành 2 loại chứng hậu:
I – Trúng phong vào tạng phủ: chia làm 2 thể bệnh
1/ Chứng bế: (chứng thực)
Bệnh nhân đột nhiên ngã ra hôn mê, bất tỉnh.
Vọng: mặt đỏ, răng cắn chặt, tay nắm cứng lại.
Văn: hơi thở có đờm khò khè và mạnh.
Thiết: mạch huyền, hoạt.
* Bệnh nhân có thể bị bí đại tiểu tiện
2/ Chứng thoát: (chứng hư)
Vọng: Sắc mặt bệnh nhân nhợt nhạt, da xanh, toát mồ hôi, miệng cắn chặt
Văn: nghe hơi thở khò khè
Thiết: tay chân bệnh nhân lạnh, mạch vi vô lực
* Bệnh nhân đại tiểu tiện không tự chủ
II – Phong trúng vào kinh lạc: được chia làm 2 thể:
1/ Trúng kinh
Vọng: bệnh nhân liệt nửa người, cử động khó, rêu lưỡi trắng mỏng.
Văn: nói ngọng hoặc ú ớ không nói được.
Vấn: nửa người tê nặng và đau nhức
Thiết: mạch huyền, tế xác.
2/ Trúng lạc
Vọng: liệt mặt, mắt lệch, miệng méo
Văn: lưỡi cứng, nói khó, nghe không rõ
Vấn: đau nửa đầu, ăn khó nuốt, chảy nước bọt nhiều hoặc khi uống nước thì trào ra, tay chân run dật
Thiết: mạch huyền xác
* Bài thuốc điều trị cho chứng Trúng phong vào tạng phủ:
.
Đảng sâm 12g Cam thảo 6g
Bạch phục linh 8g Thục địa 12g
Đương quy 8g Huỳnh kỳ 12g
Bạch thược 8g Gừng sống 3 lát
Nhục quế 6g Đại táo 3 quả
Bạch truật 8g Câu đằng 8g
Thạch xương bồ 8g
.
Uống liên tiếp 60 thang, mỗi ngày 1 thang (khi sử dụng bài thuốc này cần hỏi ý kiến thầy thuốc để được hướng dẫn cụ thể).
* Phương pháp châm cứu cho chứng Trúng phong vào tạng phủ
Hướng điều trị: Khu phong: tán hàn thanh nhiệt, hạ đờm, thông kinh, hoạt lạc
Các huyệt sử dụng:
1/ Đối với chứng bế:
– Huyệt Thập tuyên châm nặn máu (dùng để tĩnh thần) và châm tả các huyệt sau: Nhân trung, Bách hội, Hợp cốc, Dũng tuyền.
– Nếu bệnh nhân nhiệt nhiều châm tả huyệt Khúc trì, Phong trì, Thiên khu
– Nếu đờm nhiều tức ngực châm tả huyệt Trung quản, Phong long, Nội quan, Túc tam lý.
– Bệnh nhân tay chân run dật, có chóng mặt: châm tả huyệt Thái dương, xuyên huyệt Đồng tử liêu, tả huyệt Hành gian, bổ huyệt Nhiên cốc và Thái khê.
2/ Đối với chứng thoát:
– Cần mồi ngải cứu, cứu huyệt Thần khuyết, Khí hải, huyệt Quan nguyên và châm bổ các huyệt sau: Túc tam lý, Tam âm giao, huyệt Trung quản và Dũng tuyền.
– Nếu bệnh nhân cấm khẩu châm tả Á môn, Giáp xa, Thượng liêm tuyền, huyệt Ế phong, Bách hội và Hợp cốc.
* Bài thuốc điều trị cho chứng Trúng phong vào kinh lạc
.
Đỗ trọng 10g Tang kí sinh 8g
Đảng sâm 10g Phòng phong 6g
Câu đằng 8g Quế chi 6g
Tục đoạn 8g Tân giao 8g
Mộc hoa 8g Độc hoạt 8g
Ngưu tất 8g Đương quy 8g
Bạch thược 8g Cam thảo 6g
Xuyên khung 8g
.
Liệu trình điều trị 45 ngày, khi bệnh nhân muốn sử dụng bài thuốc này phải hỏi ý kiến của thầy thuốc được sự hướng dẫn rõ ràng.
* Phương pháp châm cứu cho chứng Trúng phong vào kinh lạc
1/ Đối với trúng kinh:
– Liệt nửa người nên áp dụng thủ thuật châm theo tiết đoạn thần kinh (tiết toạn từ C5 – C6 – C7 – D1 và L1 – L2 đến L5 – S1)
– Nếu liệt tay: châm huyệt Ngoại quan, Kiên ngung, Thủ tam lý, Khúc trì, Hợp cốc, Lao cung và huyệt Bát tà.
– Nếu liệt chân: châm tả huyệt Dương lăng tuyền, Trật biên, Hoàn khiêu, Thứ liêu, Uỷ trung, Thừa sơn, huyệt Giải khê, Côn lôn và Bát phong.
2/ Đối với trúng lạc
– Bệnh nhân miệng méo, mắt lệch thì châm tả huyệt Hợp cốc, Nghênh hương, Địa thương, huyệt Huyền liêu, Thái dương, Đồng tử liêu, Ngư yêu, huyệt Toản trúc, Ty trúc không, huyệt Tình minh và Ế phong.
– Nếu cấm khẩu hoặc cứng lưỡi ú ớ nói không được: châm tả huyệt Nội quan, Á môn, huyệt Thượng liêm tuyền.
– Nếu chân tay bệnh nhân có run dật: châm tả huyệt Bách hội, Hợp cốc, Phong trì, huyệt Dương lăng tuyền và Hành gian.
– Liệu trình châm: mỗi ngày châm 1 lần, mỗi lần châm và lưu kim từ 15 – 20 phút, châm 20 ngày, nghỉ 10 ngày và sau đó châm lại 1 đợt khác. Cần phối hợp với Thuỷ châm hoặc dùng Điện châm để hỗ trợ cho phương pháp này hiệu quả thêm.
Phương pháp điều trị di chứng TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO của Y – Dược sư Nguyễn Viết Xô và các đồng nghiệp tại phòng khám Từ thiện Tuệ Tĩnh Đường chùa Kỳ Quang II Q.Gò Vấp Tp.HCM trong suốt 16 năm qua.
* Xin chia sẽ những phương pháp điều trị này cho những học trò thân yêu của Môn phái HỢP QUYỀN ĐẠO Y – VÕ – TÂM THUẬT đang công tác trong nước và hải ngoại *









