NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI

NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI

 

1) CĂN BẢN CHÚ :

 

Nam mô Phật đà gia

NAMO BUDDHÀYA

Quy mệnh Phật Bảo

 

Nam mô Đạt ma gia

NAMO DHARMÀYA

Quy mệnh Pháp Bảo

 

Nam mô Tăng gìa gia

NAMO SAMGHÀYA

Quy mệnh Tăng Bảo

 

Nam mô Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát

NAMO AVALOKITE’SVARÀYA BODHISATVÀYA_MAHÀ SATVÀYA

 

Cụ Đại Bi Tâm Giả

MAHÀ KARUNIKÀYA

 

Đát diệt tha

TADYATHÀ

Khai mở Như Lai Tạng tuyên nói Thần Chú

 

Án

OM

Chữ OM được kết hợp bởi ba chữ A,U,MA trong đó

A là “ Tất cả Pháp vốn chẳng sinh “ biểu thi cho nghĩa của Pháp Thân

U là :” Tất cả Pháp thí dụ chẳng thể đắc “ biểu thị cho nghĩa cả Báo Thân

MA là : “ Tất cả Pháp Ngô Ngã chẳng thể đắc “ biểu thi cho nghĩa của Hóa Thân

Do đó OM nhiếp nghĩa vô biên ,là đầu mối của các chữ tức là chỗ phát sinh của tất cả pháp .Từ đây OM là Mẫu của các Đà La Ni nên thường đặt ở đầu câu ngoài ra ,tùy theo ý nghĩa của câu Chú theo sau mà OM biểu thi cho các nghĩa Tam Thân, Quy mệnh , Cúng Dường , Cảnh giác , nhiếp phục.

 

Chước yết ra phạt để

CAKRA VARTTI

Hay chuyển bánh xe vô thượng cũng có nghĩa là tồi phá

 

Chấn đa mạ ni

CINTA MANI

Suy tư , cũng có nghĩa là Báu của Như Lai ,Báu có 6 loại hay làm mãn ươc nguyện của chúng sinh

 

Ma ha bát đằng mế

MAHÀ PADMA

Hoa sen lớn biểu thị cho sự tĩnh các Phi Pháp vốn chẳng nhiễm dính

 

Rô rô rô rô

RURU

Lìa bụi dơ . Bụi có hai loại nên xưng hai lần ,ấy là : Nội trần và Ngoại trần

Nội trần là năm căn :mắt ,tai, mũi ,lưỡi ,thân

Ngoại trần là năm trần : Hình sắc ,âm thanh ,mùi ngửi ,vị nếm, cảm xúc khi va chạm

Cả hai loại trần đều không có Sở Đắc dùng làm phương tiện thành Du Gìa Quán Trí

 

Để sắc tra

TISTA

Trụ, cũng nói là Vô Trụ ,Vô Trụ dùng làm gốc tất cả Pháp ,cũng nói là :”Chẳng Trụ Niết Bàn ,chẳng trụ sinh tử “ Do Đại Trí nên dính vào sinh tử ,do Đại Bi nên chẳng trụ Niết Bàn

 

Thước la

JVALA

Cháy bùng , ánh áng chiếu diện tràn khắp Hư Không Pháp Giới ở mười phương ,cảnh giác Chư Phật ,Bồ Tát, Thánh Chúng giáng lập phó hội ,bên dưới triệu tất cả Bộ Trời Rồng , loại hữu tình làm lợi ích gia trì

 

A yết rị sa dạ

AKARSÀYA

Thỉnh triệu . Do sự Thỉnh triệu này mà Chư Phật ,Bồ Tát ,Bộ Trời Rồng ứng theo sự triệu điều vân tập ,gia trì hộ niệm

 

Hồng

HÙM

Hùm có nghĩa là :” Tất cả Pháp không có Nhân “ cũng nói là Bồ Đề Đạo Trường . Như Kim Cương Đỉnh Du Gìa Kinh nói :” Vừa mới pahst tâm bồ đề liền ngồi bồ đề đạo trường , chuyển bánh xe chính Pháp “ do dự tương ứng này mà một chữ của chân ngôn này ắt hay chứng ngộ tất cả Phật Pháp . Lúc niệm niệm chứng ngộ Phật Pháp thì đấy đầy đủ Tát Bà Nhã Trí (SARVA JNÀNA_NhẤT Thiết Trí Trí ) thẳng đến cứu cánh ngồi tọa kim cương ,bốn Ma hiện trước mặt ắt nhập vào Đại Từ Tam Ma địa giáng phục bốn Ma mà thành Chính Giác.

Bốn Ma là : Uẩn Ma , Phiền Não Ma , Tử Ma , Thiên Ma đều tự giáng phục .

Lại nói là Pháp không có NHÂN y theo QUẢ của Thắng Nghĩa Đế cũng không có đắc . Vì không có NHÂN QUẢ cho nên xưa nay thanh tĩnh

 

Phấn

PHAT

Chữ PHA có nghĩa là Phá Hoại, cũng có nghĩa là Tồi Hoại. Lúc được thành phật thì toài hoại bốn ma , cũng nói ở trong ba đức là ĐOẠN ĐỨC. Do Trí cắt đứt tập khí phiền não của ba cõi , cũng cắt đứt 9 Địa Vị thảy điều viên mãn hai loại tư lương PHƯỚC ĐỨC , TRÍ TUỆ. Từ vô thủy đến nay tất cả hữu tình dùng làm nơi gần gũi , vì nhớ ÂN ấy nên đi đến nơi chuyển pháp luân diễn nói 12 Hạnh Pháp Luân .

Chữ T có nghĩa là : “ Tất cả pháp không có sở đắc “ . theo Phạn Thư thì chữ T có hình nữa vành trăng nên gải thích là : Tất cả Pháp không có NGÃ, không có SỞ ĐẮC , dùng làm phương tiện ắc sinh thành KHÔNG , sinh BÁN KHÔNG ( Một nữa cái không )

 

Tóa ha

SVÀHÀ

Chữ SVÀ nghĩa là : không có ngôn thuyết “ làm thành Trí không của các Pháp ,có nghĩa là chữ đầy đủ ( Mãn Tự ) cũng nói là : Thành Tựu Đại Phước Đức.

Chữ HÀ nghĩa là : Cắt đứt phiền não khiến cho các Hữu Tình gom chứa Đại Phước Đức, cắt đứt tất cả tập khí của phiền não và tụy phiền não trong thân ta , người tràn khắp lời dạy của Mãn Tự , chứng được VÔ DƯ Y VÔ TRỤ NIẾT BÀN.

Toàn bài Căn Bản Chú trên đây được hòa thượng TĨNH NGHIÊM ghi chú nghĩa thú

 

Theo ý nghĩa khác thì :

 

OM có nghĩa là Tam Thân quy mệnh

CAKRA VARTTI có nghĩa là Chuyền Luân Vương

CINTAMANI có nghĩa là Như Ý Bảo Châu ( Viên ngọc như ý )

MAHÀ PADMA có nghĩa là Đại Liên Hoa ( hoa sen to lớn )

RURU xa lìa nội trần và ngoại trần

TISTA có nghĩa là kiên trụ ( An trú bền chắc )

JVALA có nghĩa là Phóng tỏ ánh sáng rực rỡ

AKARSÀYA có nghĩa là Thỉnh Triệu

HÙM có nghĩa là NHÂN KHỦNG BỐ nhằm dứt trừ tâm Vị Ngã phát khởi tâm Bồ Đề

PHAT có nghĩa là phá bại

SVÀHÀ có nghĩa là thành tựu cát tường

Toàn bài Chú trên có thể diễn dịch là :

“ Nam Mô Phật Bảo

Nam mô Pháp Bảo

Nam mô Tăng Bảo

Nam mô Bậc có đủ Tâm Đại Bi là Đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát

Như vậy !

Con xin quy mệnh với ĐỨC CHUYỂN LUÂN VƯƠNG NHƯ Ý BẢO CHÂU ĐẠI LIÊN HOA là bậc đã xa lìa Nội Trần và Ngoại Trần

Con xin an trụ theo ánh lửa rực rỡ của Ngài để thỉnh triệu Chư Phật , Bồ Tát , Hiền Thánh Chúng , Tam Bộ Trời Rồng , Chư Vị Hộ Pháp nhắm giúp cho con phá bại Tâm Vị Ngã phát khởi Tâm Bồ Đề , thành tựu cát tường ”

 

NHƯ Ý BẢO BẢO VƯƠNG NHƯ LAI

2) ĐẠI BI TÂM CHÚ :

 

Án

OM

Tam thân quy mệnh , cảnh giác

 

Bát đạp ma

PADMA

Hoa sen

 

Chấn đa mạc ni

CINTAMANI

Viên ngọc như ý

 

Thước ra

JVALA

Quang diễm ( ánh sáng rực rỡ như ngọn lửa )

 

Hồng

HÙM

Đẩy lùi tâm vị ngã thành tựu tâm bồ đề

Toàn Bài Chú trên có thể diễn dịch là :

“ Hỡi ánh sáng rực rỡ của LIÊN HOA NHƯ Ý BẢO CHÂU hãy giúp cho tôi thành tựu tâm Bồ Đề “.

3) TÙY TÂM CHÚ

 

Án

OM

Chữ OM có nghĩa là tất cả Pháp Lưu Chú không có SỞ ĐẮC dùng làm phương tiện , cũng có nghĩa là giác chằng thể đắc

 

Bát lật đà

VARADA

Chữ VA có nghĩa là tất cả Pháp siêu việt ( vượt quá ) dường ngôn ngữ chẳng thể đắc

Chữ RA có nghĩa là tất cả Pháp lìa nhơ bẩn rốt ráo chẳng thể đắc

Chữ DA có nghĩa là tất cả Pháp THÍ ( ban bố ) rốt ráo không có sở đắc

 

Bát đẳng mế

PADME

Chữ PA có nghĩa là tất cả Pháp THẮNG TÍNH TƯỚNG chẳng thể đắc

Chữ DME có nghĩa là tất cả Pháp lài NGÃ THỦ CHẤP chẳng thể đắc

 

Hồng

HÙM

Chữ HÙM có nghĩa là tất cả Pháp rốt ráo cũng chẳng thể đắc

Toàn Bài Chú trên đây được hòa thượng TĨNH NGHIÊM ghi chú nghĩa với mục đích dùng Pháp Bố Tự (an bày chữ ) trên thân để quán tưởng tu tập

Chữ OM đặt trên đỉnh đầu

Chữ VA đặt nơi vầng trán

Chữ RA đặt trong hai con mắt

Chữ DA đặt nơi trái tim

Chữ PA đặt ở cái miệng

Chữ DME đặt ở hai bắp tay

Chữ HÙM đặt ở cái rốn

Quán chiếu các chữ nói trên rõ ràng như mặt trời mới mọc tỏa ánh sáng rực rỡ chói chan rộng lớn vô cung. Như Quán Chiếu này chẳng bao lâu sx chứng Pháp Thân Tam Muội

Theo ý nghĩa khác thì :

OM có nghĩa là tam thân quy mệnh

VARADA có nghĩa là Dữ Nguyện , Thí Nguyện ( ban bố cho vật dụng tiền của )

PADME có nghĩa là bên trong hoa sen . Vì hoa senn còn biểu thị cho bản tâm thanh tịnh không nhiễm cấu , nên PADME còn mang nghĩa là bên trong tâm

HÙM có nghĩa là cuộc sống cao đẹp của Thánh Nhân

Toàn Bài Chú trên có thể diễn dịch là :

“ khi phát khởi được sự ban bố cứu độ trong tâm thì mới thật sự bước vào cuộc sống cao đẹp của Thánh Nhân “